
Báo cáo tài chính theo IFRS đang dần trở thành chuẩn mực đánh giá cho doanh nghiệp, cũng là ngôn ngữ thống nhất cho những công ty cần đầu tư và gọi vốn.
Khi một công ty áp dụng thực hiện báo cáo tài chính theo IFRS tức là công ty đó công khai cam kết các tiêu chuẩn cao nhất về thông tin tài chính và bảo vệ nhà đầu tư. Đó chính là công cụ để các nhà đầu tư tiềm năng so sánh, đánh giá một cách khách quan về hiệu quả tài chính cũng như triển vọng của một công ty, từ đó đưa ra quyết định phù hợp.
Founder & CEO của một công ty chuyên cung cấp dữ liệu cho nhà đầu tư đưa ra đánh giá rằng: “Chất lượng BCTC kiểm toán của những DN có quy mô vốn > 1.000 tỷ thường khá chuẩn chỉnh, nhưng với quy mô < 1.000 tỷ, đặc biệt là nhóm < 500 tỷ thì chất lượng BCTC thấp hơn rất nhiều”. Điển hình là thời gian gần đây cũng ghi nhận nhiều trường hợp DN niêm yết có sai lệch hay tồn tại nhiều điểm mập mờ trên BCTC.
Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp thực hiện BCTC theo IFRS để nâng cao chất lượng và sự minh bạch số liệu là hoàn toàn cần thiết.
Vậy doanh nghiệp nhận được giá trị gì khi lập báo cáo tài chính theo IFRS?
Ưu thế 1: Báo cáo tài chính theo IFRS tập trung vào giá trị hợp lý, cải thiện độ chính xác
Báo cáo tài chính theo IFRS định hướng tập trung vào giá trị hợp lý, ghi nhận hầu hết số dư các khoản mục và giao dịch kế toán trong kỳ báo cáo với mục đích thể hiện chính xác tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp theo giá trị hợp lý trong môi trường kinh tế hiện đại.
Chẳng hạn như tài sản và nợ phải trả được định giá dựa trên giá trị thị trường hợp lý của chúng, dẫn đến việc định giá chính xác và cập nhật hơn, có thể cải thiện chất lượng tổng thể của BCTC. Cụ thể, trước đó, các doanh nghiệp lập BCTC dựa trên giá gốc, nghĩa là tài sản và nợ phải trả được ghi nhận dựa trên giá mua ban đầu. Điều này dẫn đến sự thiếu chính xác trong BCTC, vì giá trị của tài sản và nợ phải trả có thể đã thay đổi kể từ lần mua ban đầu.
>> Tìm hiểu thêm: 5 hạn chế của báo cáo tài chính
Tuy nhiên, BCTC theo IFRS khi sử dụng giá trị hợp lý, có nghĩa là họ phải báo cáo giá trị thị trường hiện tại của tài sản và nợ phải trả, đồng thời thường xuyên đánh giá giá trị tài sản và nợ phải trả. Do vậy, thông tin tài chính chính xác và cập nhật hơn, có thể giúp các nhà đầu tư và các bên liên quan khác đưa ra quyết định phù hợp hơn.
IFRS cũng yêu cầu các doanh nghiệp công bố các giả định và phán đoán mà họ đã đưa ra trong việc xác định giá trị hợp lý. Như vậy, các nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về cơ sở định giá và đưa ra quyết định chính xác hơn về giá trị của một doanh nghiệp.
Quan trọng nhất của một báo cáo tài chính theo IFRS là không quan tâm quá nhiều tới giá gốc mà là “mark to market” nhiều, tức đưa các tài sản tài chính, tài sản của doanh nghiệp về gần hơn với giá thị trường.
Nhờ đó, báo cáo tài chính theo IFRS này phản ánh tình hình tài chính của công ty gần với giá trị vốn hóa tại thời điểm hiện tại chứ không theo giá gốc. Ngoài ra, nó cũng ghi nhận đủ các khoản lỗ hay tổn thất tài chính sớm nhất có thể, ngay khi xuất hiện khả năng có tổn thất. Đây chính là bước đi vững chắc cho mục tiêu kêu gọi vốn đầu tư cho doanh nghiệp.
Điển hình nhất là trường hợp của CTCP Vincom Retail, nếu chiếu theo Chuẩn mực VAS thì lợi nhuận sau thuế của DN ghi nhận 1.151 tỷ đồng, còn theo IFRS thì đạt 1.726 tỷ đồng trong nửa đầu năm.
Nguyên nhân của sự chênh lệch trên chủ yếu đến từ việc VAS yêu cầu khấu hao với tài sản nhưng tiêu chuẩn IFRS loại bỏ quy định này giúp giá vốn hàng bán của doanh nghiệp giảm 663 tỷ nửa đầu năm.
Bên cạnh đó, chuẩn IFRS cũng loại bỏ yêu cầu phân bổ lợi thế thương mại giúp chi phí quản lý của doanh nghiệp này giảm 36 tỷ.
>> Các bài viết liên quan:
Ưu thế 2: Báo cáo tài chính theo IFRS giúp so sánh báo cáo tài chính dễ dàng, tăng tính cạnh tranh của DN trên sân chơi quốc tế
Báo cáo tài chính theo IFRS nổi lên như một ngôn ngữ thống nhất trong thế giới kiểm toán toàn cầu. Nó cho phép các công ty giao tiếp và hiểu thông tin tài chính trên cơ sở nhất quán thông qua việc trình bày BCTC theo một định dạng chuẩn hóa, giúp các bên liên quan dễ dàng phân tích và so sánh hiệu suất giữa các doanh nghiệp khác nhau. Điều này tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, giúp nhà đầu tư dễ dàng đánh giá tiềm năng và rủi ro của doanh nghiệp.
>> Đọc thêm: Các biện pháp kiểm soát rủi ro hiệu quả đối với mỗi doanh nghiệp
Trên phương diện doanh nghiệp, bạn cũng sẽ có những thông tin hữu ích về các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành, có mức độ hoạt động tương tương ở nước khác chẳng hạn. Từ đó biết được điểm mạnh và điểm yếu so với đối thủ, lúc này DN sẽ tăng cường ưu thế của mình, đồng thời khắc phục điểm yếu để hoàn thiện hơn, đây chính là sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.
Ưu thế 3: Báo cáo tài chính theo IFRS giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận thị trường vốn quốc tế
Hiện nay, một số doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã công bố ý định tiến hành IPO trên các sàn giao dịch chứng khoán nước ngoài như Vinfast, Bamboo Airways, Vietjet…
Để có thể niêm yết cổ phiếu trên các sàn giao dịch này, yêu cầu tối thiểu là doanh nghiệp phải có các bộ BCTC được lập và trình bày theo các tiêu chuẩn BCTC quốc tế được chấp nhận rộng rãi như IFRS. Nếu niêm yết cổ phiếu thành công, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thu hút được dòng vốn đầu tư khổng lồ từ nước ngoài. Như vậy, các doanh nghiệp có mở rộng cơ hội huy động vốn từ các thị trường toàn cầu nhờ “mang theo” BCTC theo IFRS.
Ưu thế 4: Báo cáo tài chính theo IFRS giúp nâng cao khả năng quản trị nội bộ của doanh nghiệp
Để có thể lập BCTC theo IFRS, doanh nghiệp cần hoàn thiện, cải tiến các quy trình thu thập thông tin về phòng kế toán từ tất cả các phòng ban khác như phòng bán hàng, phòng pháp chế, kho bãi… Điều này giúp nâng cao khả năng quản trị nội bộ của doanh nghiệp.
Căn cứ Quyết định 345/QĐ-BTC, việc áp dụng IFRS sẽ trải qua 2 giai đoạn:

Theo đó, BCTC theo IFRS được áp dụng dựa trên tinh thần tự nguyện của các doanh nghiệp trong vòng 4 năm từ 2022 đến 2025. Điều này có nghĩa là, ở giai đoạn hiện tại, các doanh nghiệp được tự do lựa chọn thực hiện BCTC theo IFRS hay theo tiêu chuẩn cũ tùy thuộc nhu cầu và quyết định của từng doanh nghiệp.
Đối với BCTC hợp nhất, các doanh nghiệp được tự nguyện áp dụng gồm 4 nhóm doanh nghiệp sau:
Đối với BCTC riêng, các doanh nghiệp được tự nguyện áp dụng là các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, là công ty con của công ty mẹ ở nước ngoài có nhu cầu và đủ nguồn lực để áp dụng và cần phải thông báo cho Bộ Tài chính. Đồng thời, các doanh nghiệp này phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và giải trình rõ ràng với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
>> Đọc thêm kiến thức hay tại:
Tuy nhiên, từ sau năm 2025, nghĩa là từ 2026 trở đi, BCTC theo IFRS là quy định bắt buộc với các doanh nghiệp. Nó tương tự với câu chuyện doanh nghiệp đã kinh doanh thì phải hoàn thành nghĩa vụ thuế vậy.
Đối với BCTC hợp nhất, các doanh nghiệp bắt buộc áp dụng IFRS là các công ty mẹ thuộc 4 nhóm doanh nghiệp được phép tự nguyện áp dụng ở giai đoạn 1 nói trên. Các doanh nghiệp khác nếu đủ khả năng và nguồn lực vẫn có thể thông báo cho Bộ Tài chính để được áp dụng tự nguyện.
Đối với BCTC riêng, Quyết định 345/QĐ-BTC chưa quy định cụ thể đối tượng doanh nghiệp phải áp dụng bắt buộc mà mới chỉ đề cập là sẽ dựa trên việc đánh giá tình hình thực hiện giai đoạn 1 và khả năng, nhu cầu của doanh nghiệp để có các quy định cụ thể sau này.
Chắc hẳn sẽ có lúc bạn cần xem các Báo cáo tài chính theo IFRS trên thực tế trông nó như thế nào? Hay bạn cần xem cách trình bày một đoạn thuyết minh liên quan đến một khoản mục cụ thể ví dụ như: Thuê tài sản theo IFRS 16, khoản đầu tư IFRS 10… trên thực tế ra sao?
Nhìn chung, một BCTC theo IFRS có một số điểm tương đồng với chuẩn mực BCTC hiện tại. Ngoài ra loại BCTC này còn có một số thay đổi tạo nên “hình hài” khác biệt sau đây.
Thứ nhất, BCTC theo IFRS 1 về yêu cầu lập một bộ BCTC hoàn chỉnh về kỳ báo cáo IFRS đầu tiên và kỳ trước đó.
BCĐKT đầu kỳ của BCTC theo IFRS 1 được lập tại “ngày chuyển đổi” – ngày đầu tiên của năm đầu tiên được so sánh theo IFRS (ví dụ ngày 1/1/2023 cho các công ty áp dụng niên độ cuối năm dương lịch). Số dư đầu kỳ phản ánh tất cả các điều chỉnh từ VAS sang IFRS thông qua lợi nhuận chưa phân phối tại ngày này.
>> Xem thêm BCTC chuẩn VAS:
Thứ 2, BCTC theo IFRS 3 về vấn đề hợp nhất kinh doanh.
[1] Về giá phí giao dịch hợp nhất kinh doanh qua nhiều giai đoạn. Thay vì giá phí trong giao dịch hợp nhất kinh doanh qua nhiều giai đoạn được xác định là tổng giá phí của từng lần trao đổi, BCTC theo IFRS 3 sẽ ghi nhận theo giá trị hợp lý tại ngày mua (hoặc ngày hoàn thành giao dịch hợp nhất kinh doanh), sát với thực tế.
[2] Về phương pháp xác định giá trị và ghi nhận tổn thất của lợi thế thương mại. Thay vì lợi thế thương mại chỉ gắn với phần sở hữu của công ty mẹ, BCTC theo IFRS 3 sẽ ghi nhận lợi thế thương mại cho cả cổ đông không kiểm soát. Ngoài ra, BCTC theo IFRS 3 không cho phép phân bổ lợi thế thương mại trong vòng 10 như đã từng, mà thay vào đó là phải đánh giá tổn thất lợi thế thương mại theo năm.
Thứ 3, BCTC theo IFRS 10 về khoản đầu tư vào công ty con.
[1] Quyền chi phối đối với bên nhận đầu tư. Bên đầu tư A có quyền chi phối đối với bên nhận đầu tư B khi bên A thực hiện các quyền mà thông qua đó để điều hành các hoạt động có liên quan, ảnh hưởng trọng yếu đến lợi ích của bên B. Chú ý là quyền này có hiệu lực ngay cả khi bên A chưa thực hiện quyền điều hành này.
Tuy nhiên, phải có đủ bằng chứng cho thấy bên A đã thực hiện điều hành các hoạt động liên quan có thể giúp xác định xem bên A có quyền chi phối đối với bên B. Tức là, trường hợp không có bằng chứng, có thể khẳng định luôn bên A không có quyền chi phối đối với bên B.
Ngoài ra, bên đầu tư A cũng có thể có quyền chi phối đối với bên nhận đầu tư B ngay cả trong trường hợp các đơn vị khác có các quyền hiện hữu cho phép họ có khả năng tham gia trong việc điều hành các hoạt động có liên quan, ví dụ khi một đơn vị khác có sự ảnh hưởng trọng yếu. Tuy nhiên, một bên đầu tư mà chỉ có các quyền bảo vệ sẽ không có được quyền chi phối đối với bên nhận đầu tư.
[2] Các khoản lợi ích. Bên A được, hoặc có quyền, làm thay đổi các khoản lợi ích từ việc tham gia vào bên B khi các khoản lợi ích của bên đầu tư A có được từ việc tham gia đó có khả năng biến đổi tùy thuộc vào kết quả hoạt động của bên nhận đầu tư B.
Chúng ta sẽ nói rõ hơn về lợi ích cổ đông không kiểm soát. BCTC theo IFRS 10 quy định lợi ích cổ đông không kiểm soát được trình bày thành một chỉ tiêu riêng nằm trong phần vốn chủ sở hữu. Bởi về bản chất, cổ đông không kiểm soát vẫn là cổ đông của công ty con và cổ đông của tập đoàn nên toàn bộ phần sở hữu của cổ đông cần phải được trình bày là một khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu.
Ngoài ra, do cổ đông không kiểm soát là một khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu và do đó theo luật thì tất cả cổ đông đều được hưởng lợi ích cũng như phải gánh chịu phần lỗ tương ứng với phần sở hữu của mình mà không phân biệt cổ đông kiểm soát hay không kiểm soát.
Thứ 4, BCTC theo IFRS 15 về doanh thu từ hợp đồng với khách hàng.
BCTC theo IFRS 15 yêu cầu ghi nhận doanh thu khi nghĩa vụ được thực hiện bằng cách chuyển giao hàng hóa, dịch vụ đã cam kết với khách hàng theo giá trị phản ánh sự kỳ vọng mà doanh nghiệp dự kiến thu được từ việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ đó. Nghĩa vụ này có thể được thực hiện tại một thời điểm (thường là cam kết chuyển giao hàng hóa) hoặc theo thời kỳ (thường là cam kết cung cấp dịch vụ), doanh nghiệp cần chú ý chuẩn mực này để xác định doanh thu tương ứng với phần nghĩa vụ đã được thực hiện, nhất là các DN hoạt động trong ngành viễn thông, phát triển phần mềm và bất động sản. Nói theo cách khác, DN cần xác định giá giao dịch riêng cho từng nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng và chỉ ghi nhận doanh thu khi nghĩa vụ đã được thực hiện.
Chúng ta có thể minh họa luôn đối với các doanh nghiệp Phát triển phần mềm. Thông thường, bản quyền phần mềm được bán theo gói, bao gồm các bản cập nhật, còn được gọi là hỗ trợ khách hàng sau hợp đồng. Theo đó, bản quyền phần mềm này là một phần riêng biệt với doanh thu được ghi nhận tại thời điểm khi quyền sử dụng được chuyển giao, trong khi hỗ trợ sau hợp đồng thì được cung cấp theo thời kỳ.
Việc của các DN lúc này là cần xác định đúng giá giao dịch riêng cho từng nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng và ghi nhận doanh thu khi hoàn thành mỗi nghĩa vụ. Bạn cũng cần chú ý thêm trường hợp ngoại lệ khi việc chuyển giao quyền sử dụng và các hỗ trợ cập nhật sau chuyển giao được kết hợp thành một nghĩa vụ thực hiện duy nhất.
Thứ 5, BCTC theo IFRS 16 về thuê tài sản.
[1] Về phân loại thuê tài sản đối với bên đi thuê. BCTC theo IFRS 16 không còn phân biệt giữa thuê hoạt động và thuê tài chính, thay vào đó, hầu hết các hợp đồng thuê được vốn hóa bằng cách ghi nhận trách nhiệm cho thuê và quyền sử dụng tài sản trên BCĐKT – kèm khấu hao tài sản và lãi suất tài chính đối với các khoản nợ thuê. Theo đó, trong cả hai trường hợp, bên đi thuê đều sẽ ghi nhận “quyền-sử-dụng-tài sản” và một khoản “nợ thuê tài sản” trên Báo cáo tình hình tài chính.
Ngoài ra, BCTC theo IFRS 16 chỉ cho phép một số ngoại lệ khi bên đi thuê vẫn được ghi nhận thuê hoạt động nếu rơi vào một số trường hợp sau:
[2] Về tổn thất tài sản. BCTC theo IFRS 16 yêu cầu nếu tài sản đi thuê có dấu hiệu tổn thất IAS 36 sẽ được áp dụng để đánh giá xem quyền sử dụng tài sản này có bị tổn thất hay không. Ngoài ra, về việc ghi nhận đối với bên đi thuê, BCTC theo IFRS 16 vẫn phân loại thuê tài sản thành thuê hoạt động và thuê tài chính tương tự như VAS 06.
Dưới đây là một mẫu báo cáo tài chính theo IFRS điển hình của Wilton Resources Inc năm 2021. Hy vọng sẽ là tài liệu mẫu để các bạn tham khảo và áp dụng trên BCTC của doanh nghiệp mà các bạn đang làm!
Theo các chuyên gia, một DN trung bình sẽ cần từ 3-5 năm để đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu đủ kiến thức để có thể lập báo cáo tài chính theo IFRS. Đó là một quá trình vừa tốn thời gian vừa tốn công sức. Chính vì vậy, để có thể lập được một BCTC theo IFRS chuẩn chỉnh, doanh nghiệp cần có một lộ trình rõ ràng, bao gồm các đầu việc đơn giản như sau.

Quy trình lập một BCTC theo IFRS chuẩn chỉnh
Bước 1: So sánh và xác định các khác biệt giữa VAS & IFRS và lập kế hoạch cho việc chuyển đổi.
Điều đơn giản để hoàn thành tốt 1 công viêc là phải hiểu được nó trước. Lập BCTC cũng vậy, doanh nghiệp trước hết cần hiểu rõ IFRS, thấu hiểu những điểm khác biệt giữa chuẩn mực VAS và IFRS, xác định những khác biệt đó ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến BCTC của mình nếu áp dụng IFRS, những khác biệt nào sẽ được áp dụng và những cái nào không cần áp dụng vì không phù hợp.
Việc này sẽ giúp doanh nghiệp lên kế hoạch thực hiện chi tiết cho các bộ phận liên quan trong việc thu thập và xử lý dữ liệu cho mục đích thực hiện BCTC theo IFRS hơn.
Bước 2: Xây dựng mẫu BCTC theo IFRS phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp.
BCTC theo IFRS nếu đầy đủ toàn bộ các khoản mục và yêu cầu thì sẽ rất nhiều và dài, tuy nhiên, doanh nghiệp có thể được lược bỏ bớt đi những nội dung không phù hợp với quy mô hoạt động, loại hình kinh doanh, giai đoạn phát triển, loại giao dịch kinh tế phát sinh,.. và vẫn bảo đảm được tính tuân thủ.
Để thực hiện bước này, doanh nghiệp cần:
(1) Xem xét kỹ các chuẩn mực liên quan đến trình bày và công bố thông tin của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IFRS.
(2) Đối với doanh nghiệp chuyển đổi BCTC là để cho lần đầu áp dụng IFRS thì phải xem thêm IFRS 1 để có hướng dẫn cụ thể
(3) Tham khảo BCTC theo IFRS của các doanh nghiệp cùng ngành nghề
(4) Sử dụng bảng kiểm tra các nội dung cần trình bày và công bố trên BCTC (IFRS checklist). Liên hệ với Crowe Việt Nam để có bản cập nhật nhất.
Bước 3: Xây dựng hệ thống tài khoản chi tiết để phục vụ cho việc lập BCTC theo IFRS.
Trên cơ sở mẫu BCTC đã được xác định ở trên, doanh nghiệp sẽ xây dựng hệ thống tài khoản chi tiết tương ứng, các biểu mẫu và công thức tính toán rồi tiến hành gán (code) chúng với mã số của từng khoản mục ở trên BCTC để dễ dàng tổng hợp số liệu từ các tài khoản chi tiết.
Việc này thường là thực hiện trên file Excel, một số trường hợp có thực hiện trên phần mềm kế toán nếu có các chức năng hỗ trợ tương ứng.
Bước 4: Xác định các bút toán để chuyển đổi số liệu từ hệ thống tài khoản theo VAS sang hệ thống tài khoản theo IFRS.
Việc chuyển đổi số liệu yêu cầu phải thực hiện các điều chỉnh hồi tố để xác định số liệu đầu kỳ theo IFRS. Đối với năm đầu tiên chuyển đổi sang IFRS, bạn cần tham khảo chuẩn mực IFRS 1 để có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này.
Nhưng nhìn chung các bút toán chuyển đổi số liệu sẽ gồm 2 loại chính sau:
[1] Bút toán mang tính phân loại lại số dư: Ban đầu, số dư trên hệ BCTC theo IFRS được chuyển ngang tạm thời từ hệ thống BCTC theo VAS, vì vậy nó có thể sẽ không phù hợp với nội hàm của tài khoản đó. Lúc này, DN cần xác định đúng những tài khoản nào có sự không phù hợp rồi phân loại một phần/ hoặc toàn bộ số dư sang (các) tài khoản phù hợp khác.
Bút toán loại này sẽ không làm ảnh hưởng đến tổng giá trị tài sản, công nợ, doanh thu, chi phí vì chúng chỉ là phân loại nội bộ giữa các khoản mục thôi.
>> Tìm đọc bài viết:
[2] Bút toán mang tính điều chỉnh: Bút toán này sẽ áp dụng cho những tài khoản mà số dư có khác biệt do tiêu chí ghi nhận, cách thức đo lường và đánh giá giá trị giữa 2 loại chuẩn mực. Thông thường để thực hiện các bút toán điều chỉnh loại này, doanh nghiệp phải áp dụng các công thức tính toán phù hợp, và cơ sở dữ liệu phù hợp theo hướng dẫn cụ thể của từng chuẩn mực liên quan.
Sau đó, bạn cần phải thực hiện kiểm tra tính cân bằng và phù hợp của số liệu sau khi đưa bút toán điều chỉnh vào. Nên nhớ rằng, bút toán loại này sẽ làm ảnh hưởng tăng/giảm đến tổng giá trị tài sản, công nợ, doanh thu, chi phí,…
Ngoài ra, doanh nghiệp cần thu thập, chuẩn bị các thông tin và dữ liệu cần thiết cho các thuyết minh chi tiết trên BCTC. Mọi bút toán điều chỉnh và trình bày thông tin trên BCTC đều cần phải dựa trên các chứng từ và tài liệu giải trình đầy đủ và thuyết phục. Phải công nhận việc thu thập và chuẩn bị các dữ liệu để xác định các bút toán chuyển đổi sẽ tốn nhiều thời gian và công sức, vì vậy, các DN cần chủ động lên kế hoạch xử lý sớm, phù hợp với quy mô và cơ cấu tổ chức của mình để bảo đảm các bộ phận liên quan phối hợp hiệu quả và kịp thời hạn.
>> Đọc chi tiết: Thuyết minh báo cáo tài chính
Bước 5: Lên số liệu trên BCTC và hoàn thiện các thuyết minh tương ứng.
Sau khi hoàn thành số liệu của hệ thống tài khoản theo IFRS, doanh nghiệp sẽ tổng hợp lại để lên số liệu cho từng khoản mục trên BCTC theo như mẫu báo cáo đã được xây dựng trước đó.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải hoàn thiện việc trình bày và công bố các thông tin chi tiết trong các thuyết minh của BCTC. Riêng với năm đầu tiên chuyển đổi sang IFRS, cần tham khảo chuẩn mực IFRS 1 để có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này.
Bước 6: Rà soát và kiểm tra lại tổng thể tính hợp lý của số liệu, cũng như tính tuân thủ về trình bày và công bố thông tin trên BCTC là hoàn tất.
Thực hiện các đối chiếu tổng thể số liệu trên BCTC theo IFRS với BCTC được lập theo VAS để bảo đảm mọi chênh lệch được giải thích hợp lý. Đồng thời bạn cần rà soát lại toàn bộ các nội dung trình bày và công bố thông tin trong BCTC theo IFRS để bảo đảm chúng đã được thực hiện đầy đủ và phù hợp.
Như đã trình bày ở trên, việc lập một báo cáo tài chính theo IFRS khá tốn công sức, lại còn liên quan nhiều đến tính toán các con số. Chính vì thế, trong quá trình thực hiện DN có thể sẽ phải đối mặt một số khó khăn ảnh hưởng đến sự chính xác và mức độ tin cậy của một BCTC. Doanh nghiệp cần cân nhắc những vấn đề sau:
1- Vấn đề chi phí và lợi ích. Việc chuyển đổi và vận hành hệ thống báo cáo tài chính theo IFRS đòi hỏi một sự đầu tư đáng kể về chi phí, thời gian và công sức. Do đó, doanh nghiệp cần ước tính các chi phí này và so sánh với lợi ích thu được trước khi thực hiện BCTC áp dụng IFRS.
2- Thay đổi trọng yếu. Như đã trình bày ở trên, việc áp dụng IFRS sẽ dẫn đến một số thay đổi trọng yếu trong hoạt động kế toán và tài chính của doanh nghiệp. Điều này bao gồm chênh lệch giữa cơ sở tính thuế và kế toán, sự thay đổi trong các điều khoản của các hợp đồng kinh tế và nhu cầu cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiết theo yêu cầu của IFRS.
3- Chênh lệch giữa cơ sở tính thuế và kế toán. Khi sử dụng BCTC theo IFRS, một số giao dịch được hạch toán và phản ánh trên báo cáo theo các phương pháp khác nhau so với phương pháp giá gốc. Điều này dẫn đến sự chênh lệch giữa số liệu hạch toán theo kế toán và cơ sở tính thuế của cơ quan thuế (theo giá gốc). Sự chênh lệch này có thể tạo ra khó khăn trong việc duy trì song song sổ sách kế toán hạch toán theo IFRS và sổ phụ kế toán để theo dõi cơ sở tính thuế cũng như theo dõi các khoản thuế hoãn lại phát sinh do chênh lệch giữa thuế và kế toán.
>> Tìm hiểu thêm: Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành & hoãn lại
4- Thay đổi các điều khoản trong hợp đồng kinh tế. Áp dụng IFRS có thể yêu cầu thay đổi các điều khoản trong các hợp đồng kinh tế để phù hợp với các yêu cầu của chuẩn mực này. Điều này đòi hỏi bộ phận kế toán và bộ phận pháp chế cần phối hợp để hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của hợp đồng và các quy định liên quan tại IFRS. Từ đó, xác định đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tài chính phát sinh để làm cơ sở cho việc hạch toán kế toán.
5- Yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiết. Báo cáo tài chính theo IFRS yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiết hơn nhiều so với BCTC theo VAS. Do đó, bộ phận kế toán cần phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong doanh nghiệp để thu thập đầy đủ thông tin theo yêu cầu của một BCTC theo IFRS.
Ví dụ như, Chuẩn mực IFRS 15 về Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng yêu cầu bộ phận kế toán am hiểu rõ các điều khoản về cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong hợp đồng doanh thu. Điều này đòi hỏi phối hợp với các phòng ban liên quan để thu thập đầy đủ thông tin phục vụ cho việc hạch toán kế toán và có những sửa đổi cần thiết trong hợp đồng nếu cần thiết.
Nói tóm lại, doanh nghiệp nên thực hiện một nghiên cứu và đánh giá tổng thể về những thay đổi, ước tính các chi phí và lợi ích, và chuẩn bị sẵn sàng cho việc tuân thủ các yêu cầu và thay đổi trong việc áp dụng IFRS.

5 yếu tố lập BCTC theo IFRS thành công
Chiến lược 1: Vạch ra lộ trình chuyển đổi rõ ràng và bắt đầu sớm
Theo ấn phẩm Chuyển đổi Chuẩn mực Kế toán Việt Nam sang Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tháng 01/2021 của Deloitte, trong quá khứ, nhiều doanh nghiệp ở châu Âu đã mắc phải sai lầm khi thực hiện BCTC theo IFRS. Nguyên nhân chính là do là họ không bắt đầu đủ sớm khiến cho nhiều doanh nghiệp không xác định được phạm vi công việc rõ ràng và không thể hoàn thành quá trình chuyển đổi theo thời gian dự kiến.
Chính vì lẽ đó, để có thể chuyển đổi BCTC thành công, doanh nghiệp nên có một lộ trình chuyển đổi rõ ràng từ việc hiểu rõ về IFRS, xác định phạm vi công việc, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết, triển khai kế hoạch và giám sát quá trình.
Sự thành công sẽ tăng lên nếu bạn xây dựng được một đội dự án có chuyên môn phụ trách xuyên suốt quá trình chuyển đổi từ giai đoạn đầu tiên đến khi lập BCTC theo IFRS.
Doanh nghiệp cũng cần bắt đầu kế hoạch chuyển sớm vì thời điểm bắt buộc phải áp dụng IFRS là sau năm 2025, ngày chuyển đổi BCTC là 01/01/2025 (tức là phải bắt đầu được thực hiện trong năm bắt đầu từ ngày 01/01/2024). Đối với các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng IFRS, hạn cuối thậm chí còn đến sớm hơn.
Chiến lược 2: Tổ chức đào tạo nguồn nhân lực
Doanh nghiệp nên có kế hoạch đào tạo bài bản, liên tục và lâu dài cho bộ phận kế toán và các bộ phận khác có liên quan như bộ phận kinh doanh, pháp chế, hoạch định chiến lược.
Đối với các công ty mẹ có nhiều công ty con, đội ngũ kế toán của các công ty con này cũng cần được đào tạo kiến thức cơ bản về IFRS để phục vụ cho mục đích cung cấp thông tin cho BCTC hợp nhất của tập đoàn. Ngoài ra, Ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng cần được trang bị các kiến thức, hiểu biết cơ bản về tài chính kế toán và IFRS.
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các dịch vụ tư vấn, đào tạo của các công ty kiểm toán và nên tham gia các buổi hội thảo cập nhật kiến thức của Bộ Tài chính, Hội Kế toán, Kiểm toán Việt Nam và các hội nghề nghiệp.
Chiến lược 3: Xây dựng bộ máy kế toán và hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các bộ phận
Tổ chức bộ máy kế toán với các nhân sự chuyên trách về BCTC theo IFRS từ công ty mẹ đến các công ty con, đồng thời xây dựng quy trình phối hợp cung cấp thông tin giữa các phòng ban cũng là một chiến lược tốt cho các doanh nghiệp trong thời gian thực hiện.
Chiến lược 4: Phát triển hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu
Hệ thống công nghệ thông tin nên hướng đến việc xây dựng một phần mềm ERP quản trị xuyên suốt các nguồn lực của doanh nghiệp, giúp đảm bảo việc cung cấp thông tin giữa bộ phận kế toán và các bộ phận khác, giữa công ty mẹ và các công ty con.
Trong giai đoạn đầu (ví dụ từ năm 2024 đến năm 2025), doanh nghiệp sẽ phải tiếp tục lập song song 2 bộ BCTC: một bộ BCTC theo VAS để nộp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, một bộ BCTC theo IFRS để phục vụ cho mục đích so sánh thông tin. Như vậy, hệ thống phần mềm này cần đáp ứng được yêu cầu hạch toán kế toán song song theo cả VAS và IFRS. Nếu không, doanh nghiệp sẽ phải tiến hành lập các bút toán chuyển đổi một cách thủ công BCTC từ VAS sang IFRS.
Việc lập BCTC theo IFRS vốn có nhiều khác biệt về ghi nhận, đo lường giá trị, trình bày và công bố thông tin so với các chuẩn mực hiện tại. Do đó, doanh nghiệp cần rà soát và thực hiện những thay đổi (nếu cần) đối với các nội dung sau đây của hệ thống thông tin kế toán để đảm bảo tính phù hợp và ổn định khi chính thức lập BCTC theo IFRS. Doanh nghiệp cũng phải chuẩn bị các cơ sở dữ liệu chưa có khi áp dụng VAS như giá trị hợp lý, lãi suất hiệu quả, lãi suất cố định, lãi suất thả nổi. Ngoài ra, cũng cần chuẩn bị các thông tin phi tài chính như thị phần, tỷ lệ sản phẩm bảo hành để có thể lập các thuyết minh về BCTC theo IFRS.
Chiến lược 5: Thiết lập quy trình chuyển đổi BCTC theo IFRS phù hợp
Nên xây dựng một quy trình chuyển đổi BCTC phù hợp với đặc thù doanh nghiệp bao gồm trình tự các bước và hướng dẫn cụ thể. Quy trình này phải được phổ biến cho nhân sự phòng kế toán cũng như các bộ phận có liên quan, trong đó có quy định trách nhiệm của mỗi cá nhân phụ trách. Điều này sẽ giúp việc chuyển đổi BCTC của doanh nghiệp trở nên dễ kiểm soát hơn.
Việc áp dụng BCTC theo IFRS không chỉ là một bước đi chiến lược quan trọng giúp nâng cao tính chính xác và minh bạch của báo cáo tài chính mà còn mở ra cơ hội tiếp cận thị trường vốn quốc tế và tăng cường tính cạnh tranh toàn cầu cho doanh nghiệp. Hy vọng với những kiến thức Taca đưa ra trên đây, doanh nghiệp đã có cho mình những chiến lược và quyết định phù hợp để bứt phá trong tiến trình phát triển của mình.
Đồng hành là đội ngũ chuyên gia có kiến thức và giàu kinh nghiệm thực chiến trong lĩnh vực BCTC với sự am tường môi trường kinh doanh tại Việt Nam; một chương trình đào tạo Lập BCTC theo chuẩn mực quốc tế IFRS chuyên sâu theo ngành, được may đo thiết kế riêng phù hợp theo nhu cầu thực tiễn từng doanh nghiệp; tích hợp phương pháp đào tạo Lập BCTC theo IFRS trực tiếp trên số liệu của doanh nghiệp, phân tích chuyên sâu theo từng ngành cùng với cả tâm huyết để nghiên cứu và phát triển,
TACA tự hào khi cho ra đời Dịch vụ Hợp nhất báo cáo tài chính theo chuẩn mực Việt Nam VAS và IFRS để giúp doanh nghiệp bạn có được hệ thống BCTC hợp nhất chuẩn chỉnh vừa tiết kiệm thời gian, chi phí vừa theo đúng tiêu chuẩn VAS và IFRS hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển doanh nghiệp về lâu dài.
Tham khảo thêm Dịch vụ báo cáo tài chính Taca:
>> Các gói dịch vụ kế toán thuế khác tại TACA:
Taca Business Consulting!
Tầng 2, tòa A, Chelsea Residences, số 48 Trần Kim Xuyến, Phường Yên Hoà, TP Hà Nội.
Hotline: 0982 518 586
Support@taca.edu.vn
Tầng 18, Tòa nhà Vincom Center Đồng Khởi, 72 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Nghé, Quận 1, HCM
Hotline: 0985 611 911