
Các vấn đề chuyển giá giữa các doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm né, trốn các nghĩa vụ thuế không hiếm và thường diễn ra thông qua các “giao dịch liên kết” (các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá); mặc dù trên giấy tờ không thể hiện là một công ty liên kết nhưng bản chất phía sau các công ty đó đều nằm trong cùng một nhóm.
Hiện nay có bốn (04) nhóm giao dịch liên kết chính mà các doanh nghiệp thường hay sử dụng bao gồm:
– Các giao dịch liên liên quan đến tài sản/hàng hóa hữu hình: Nhóm giao dịch trên rất phổ biến đối với các doanh nghiệp nước ngoài; bao gồm các hoạt động:
– Các giao dịch liên quan đến tài sản vô hình: Đây được coi là nhóm giao dịch cơ quan thuế đặc biệt lưu tâm đến; các hoạt động giao dịch gồm:
– Các giao dịch dịch vụ: Nhóm giao dịch dịch vụ cũng là nhóm giao dịch cơ quan thuế thường xuyên lưu ý tới; các hoạt động chính đó là:
– Các giao dịch về tài chính
>> Có thể thấy: Bốn nhóm giao dịch này được cho là mang tính quyết định ảnh hưởng trực tiếp hoạt động, kết quả kinh doanh và dòng lợi nhuận thuần của doanh nghiệp.

Ghi nhận các giao dịch liên kết trên báo cáo kết quả kinh doanh
Ghi nhận các giao dịch liên kết trên báo cáo kết quả kinh doanh
– Các nhóm chi phí đầu vào nguyên liệu, mua nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, trả phí bản quyền sản xuất, những giao dịch này sẽ ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán của doanh nghiệp, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng đến số thuế phải nộp, doanh nghiệp chỉ cần thay đổi giá mua bán của các giao dịch này sẽ tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thuần từ đó thay đổi số thuế cần nộp cho cơ quan thuế.
– Ghi nhận giao dịch liên kết trên báo cáo kiểm toán: Các giao dịch liên kết trong chuẩn mực kế toán, kiểm toán, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải kê khai các giao dịch trọng yếu với bên liên kết, các giao dịch liên kết này ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và báo cáo thu nhập; chỉ cần thông qua những giao dịch trên doanh nghiệp có thể “bơm thổi” kết quả kinh doanh từ đó tăng giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp. Nhiều trường hợp kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích làm giá trị kinh tế và giá trị cổ phần của doanh nghiệp cao hơn hoặc khi tiến hành vay vốn ngân hàng được nhiều hơn.
– Ngoài ra, các bên có quan hệ liên kết là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp như: Một bên tham gia trực tiếp, hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia; hoặc các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.
Chẳng hạn như: Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp, hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia; cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp, hoặc gián tiếp; Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp, hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia…
>>Xem thêm:
Đối với nhóm giao dịch liên kết mua tài sản cố định cần sử dụng phương pháp xác định giá so sánh giá giao dịch độc lập; bên cạnh đó các thủ tục, chứng từ đi kèm bao gồm:
Các chứng từ trên nhằm mục đích chứng minh giá mua của công ty từ bên liên kết không bị chênh lệch quá nhiều so với giá bên liên kết mua từ bên độc lập.
Tuy nhiên nhóm giao dịch trên có rủi ro, đó là chi phí khấu hao tài sản cố định không được trừ để tính CIT (Corporate Income Tax – thuế thu nhập doanh nghiệp) nếu không có đủ chứng từ hợp lý hợp lệ hoặc mức giá không phù hợp.
>>Xem thêm:
Phí dịch vụ nội bộ bao gồm: Hỗ trợ quản lý, kinh doanh, kỹ thuật, công nghệ thông tin,…
Phương pháp các định giá thường được sử dụng đối với nhóm giao dịch liên kết trả phí dịch vụ nội bộ tập đoàn là phương pháp giá vốn cộng lãi và so sánh lợi nhuận thuần.
Một số loại phí dịch vụ nội bộ tập đoàn phổ biến bao gồm:
Trong khi đó, điều kiện để được xem là hợp lý hợp lệ để khấu trừ CIT tại Khoản 2, Điều 16, Nghị định 132/2020/NĐ-CP:
Lưu ý: Cơ quan Thuế tập trung rất nhiều vào các tiêu chí trên để đánh giá tính hợp lý hợp lệ của các khoản phí dịch vụ nội bộ.
– Các khoản phí dịch vụ nội bộ tập đoàn không được trừ:

Các chất vấn thực tế của cơ quan thuế trường hợp trả phí dịch vụ nội bộ tập đoàn
Các chất vấn thực tế của cơ quan thuế trường hợp trả phí dịch vụ nội bộ tập đoàn
Giả sử: Bên A là công ty con của trụ sở chính đặt tại Hoa Kỳ; trụ sở chính cung cấp cho A và các công ty con khác dịch vụ quản lý, bao gồm: CNTT, nhân sự, chất lượng, pháp lý và tài chính. Phí dịch vụ (300.000 USD/năm) được trụ sở chính phân bổ cho bên A và các công ty con khác dựa vào các tiêu chí phân bổ như số người dùng, doanh thu,…
Các câu hỏi của cơ quan Thuế đối với trường hợp này như sau:
Ở trường hợp này lợi thế của người nộp thuế bao gồm:
Cuối cùng, cơ quan Thuế đã chấp nhận khấu trừ một phần khoản phí dịch vụ quản lý đó.
Lưu ý: Người nộp thuế cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho phí dịch vụ nội bộ tập doàn trước những câu hỏi khó của cơ quan Thuế.
>> Xem thêm:
Phí bản quyền được trả cho việc chuyển giao quyền sử dụng tài sản vô hình, bao gồm:
Đối với nhóm giao dịch liên kết này, phương pháp xác định giá giao dịch liên kết thường được sử dụng đó là phương pháp – sánh giá giao dịch độc lập.
Các điều kiện để phí bản quyền được xem là hợp lý, hợp lệ theo quy định và trong thực tế bao gồm:
Nhóm giao dịch liên kết liên quan đến trả phí bản quyền cần có các phân tích các chức năng chính: phát triển, nâng cao, bảo trì, bảo vệ và khai thác (Development, Enhancement, Maintainance, Protection, Explotation – DEMPE. Cụ thể: phân tích tài sản vô hình phải căn cứ quyền sở hữu tài sản; lợi nhuận tiềm năng từ tài sản vô hình; các hạn chế về phạm vi địa lý trong việc sử dụng, khai thác quyền đối với tài sản vô hình; vòng đời của tài sản vô hình; các quyền và mối quan hệ mang lại lợi ích kinh tế; việc người được nhượng quyền có tham gia phát triển tài sản vô hình và chức năng hoạt động, khả năng kiểm soát rủi ro kinh doanh trên thực tế của từng bên liên kết liên quan đến toàn bộ quá trình phát triển, gia tăng, duy trì, bảo vệ và khai thác tài sản vô hình.

Các chất vấn thực tế của cơ quan thuế đối với nhóm giao dịch liên kết trả phí bản quyền
Các chất vấn thực tế của cơ quan thuế đối với nhóm giao dịch liên kết trả phí bản quyền

Trả phí bản quyền đối với công ty mẹ, các bên liên kết và bên độc lập
Trả phí bản quyền đối với công ty mẹ, các bên liên kết và bên độc lập
Đối với tình huống minh hoạ trên, cơ quan Thuế có thể đặt các câu hỏi:
+ Có hồ sơ chứng từ gì?
+ Chính sách giá GDLK và phân tích so sánh như thế nào? + Bên chuyển giao (chủ sở hữu) đã đăng ký quyền sở hữu hợp pháp công nghệ chưa?
+ Tại sao tính phí bản quyền/phí giấy phép trên cả doanh thu bán hàng cho bên liên kết?
+ Tại sao ABC vẫn phải trả phí bản quyền khi công nghệ đã được chuyển giao trong thời gian dài?
– Vấn đề của người nộp thuế trong tình huống trên sẽ gồm:
+ Không lưu trữ hồ sơ chứng từ để chứng minh công nghệ thực sự được chuyển giao và lợi ích liên quan mà ABC nhận được từ công nghệ chuyển giao;
+ Không nắm rõ cách thức các định phí bản quyền/công ty mẹ không xây dựng chính sách giá giao dịch liên kết;
+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ chưa được soạn thảo phù hợp theo quy định.
→ Từ đó dẫn đến các hệ quả như sau:
+ ABC mất nhiều thời gian và nguồn lực để thu thập hồ sơ chứng từ,
+ Cơ quan Thuế chỉ chấp nhận phí bản quyền đối với giao dịch bán hàng cho bên độc lập.
>> Bài học cần được rút ra đối với trường hợp này là:
+ Rà soát lại toàn bộ giao dịch trả phí bản quyền trên phương diện thuế và pháp lý;
+ Lập và lưu trữ hồ sơ xác định giá GDLK (phân tích DEMPE và phân tích so sánh);
+ Lập và lưu trữ riêng hồ sơ chứng từ
+ Cập nhật và đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ.
>>Xem thêm:
Mô hình cung cấp dịch vụ gia công được coi là mô hình phổ biến nhất hiện nay tại Việt Nam (gia công may mặc, giày da); các tập đoàn chủ yếu có nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực EU,… và tận dụng các ưu đãi về giá đất, nhân lực.
Cụ thể, công ty mẹ sẽ bàn giao nguyên liệu cho công ty con, tuy nhiên quyền sở hữu vẫn thuộc công ty mẹ, sau đó công ty con sẽ gia công (cắt, may, đóng gói,…) và chuyển giao thành phẩm quay lại công ty mẹ. Trong giao dịch này công ty mẹ sẽ phải trả phí gia công cho công ty con.

Gia công dịch vụ giữ công ty mẹ và công ty con
Gia công dịch vụ giữ công ty mẹ và công ty con
>> Tại Việt Nam, mô hình này khá phổ biến ở các ngành công nghiệp gia công đặc biệt là trong lĩnh vực may giày da để tối ưu hóa sản xuất, tận dụng nguồn nhân lực và ưu đãi về giá đất như:
Những công ty này thường có quy trình cung ứng và sản xuất chặt chẽ giữa công ty mẹ và các nhà máy gia công tại Việt Nam. Công ty mẹ thường cung cấp nguyên liệu và kỹ thuật sản xuất, trong khi các nhà máy gia công tại Việt Nam thực hiện gia công theo yêu cầu và tiêu chuẩn của công ty mẹ.
Mô hình sản xuất theo hợp đồng cho bên liên kết là mô hình thường được áp dụng phổ biến tại Việt Nam trong các lĩnh vực linh kiện điện tử, linh kiện ô tô xe máy, cơ khí chế tạo,… và cao cấp hơn mô hình gia công; theo mô hình trên công ty mẹ (công ty liên kết ở nước ngoài có thể thành lập công ty con ở Việt Nam) sẽ cung cấp nguyên liệu cho công ty con, cung cấp máy móc thiết bị hoặc cho vay hoặc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ (dịch vụ hỗ trợ đào tạo, quản lý,…). sau khi công ty con hoàn thành thành phẩm sẽ chuyển giao lại cho công ty mẹ.
Khá nhiều tập đoàn nước ngoài thành lập công ty con ở Việt Nam, tiến hành sản xuất và bán lại hàng hoá cho các công ty trong tập đoàn theo đơn đặt hàng, sau đó các công ty mẹ sẽ bán lại cho các công ty độc lập tại nước ngoài.

Sản xuất theo hợp đồng giữa các bên có quan hệ liên kết
Sản xuất theo hợp đồng giữa các bên có quan hệ liên kết
>> Tại Việt Nam, mô hình này được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất ngành công nghiệp linh kiện điện tử, linh kiện ô tô xe máy, cơ khí chế tạo và các ngành công nghiệp cao cấp khác như:
>> Những công ty này thường có một hệ thống phức tạp của chuỗi cung ứng và sản xuất, trong đó công ty mẹ cung cấp nguyên liệu, công nghệ và hỗ trợ sản xuất cho các nhà máy con tại Việt Nam, sau đó sản phẩm được chuyển giao trở lại cho công ty mẹ hoặc được bán ra thị trường nội địa và quốc tế.
Mô hình này liên quan đến bản hàng cho bên độc lập có thể tại Việt Nam hoặc phía nước ngoài; ở đây có giao dịch liên kết liên quan đến nguyên liệu, máy móc thiết bị, cho vay đồng thời phát sinh thêm việc liên quan đến bản quyền sử dụng công nghệ sản xuất (công ty con sản xuất và buộc phải sử dụng công nghệ bản quyền của công ty mẹ) và trả phí bản quyền tương ứng.
Mô hình này đặc biệt phổ biến ở Việt Nam trong các lĩnh vực linh kiện điện tử, ô tô xe máy, phổ biến hơn đối các nhà cung cấp, các tên tuổi lớn trong ngành, như: Samsung, Honda, Yamaha,… Các doanh nghiệp trên sẽ bán hàng hoá cho các bên độc lập và chịu nhiều rủi ro về thị trường về sự cạnh tranh, giá cả; chính bởi vậy đây là mô hình tiềm ẩn nhiều rủi ro hạn chế.

Sản xuất chịu rủi ro hạn chế liên quan đến bán hàng cho bên độc lập
Sản xuất chịu rủi co hạn chế liên quan đến bán hàng cho bên độc lập
>> Tại Việt Nam, mô hình này được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất ngành công nghiệp linh kiện điện tử, ô tô xe máy, nơi mà sự cạnh tranh và áp lực giá cả là rất cao. Các công ty lớn trong ngành thường áp dụng mô hình này để tối ưu hóa sản xuất và tận dụng công nghệ tiên tiến từ các công ty mẹ hoặc đối tác liên kết, như:
>> Những công ty này thường đối diện với áp lực cạnh tranh cao và giá cả cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, việc họ chịu ít rủi ro hơn do có sự hỗ trợ từ công ty mẹ và sử dụng công nghệ tiên tiến.
Đây được coi là một mô hình khá đơn giản, các công ty con sẽ nhập khẩu các thành phẩm từ công ty mẹ và cung cấp phân phối các công ty độc lập tại Việt Nam. Trong mô hình này sẽ phát sinh các nhóm chính bán hàng thành phẩm và cung cấp các bản quyền thương hiệu, nhãn hiệu nhằm phân phối sản phẩm, ngoài phát sinh một số giao dịch khác như cho vay, dịch vụ hỗ trợ…

Phân phối sản phẩm của tập đoàn tới các công ty con
Phân phối sản phẩm của tập đoàn tới các công ty con
>> Tại Việt Nam, mô hình phân phối sản phẩm của các tập đoàn tại Việt Nam thường tập trung vào việc nhập khẩu sản phẩm từ công ty mẹ và phân phối chúng thông qua các kênh bán hàng và đối tác độc lập trong nước. Dưới đây là một số công ty hoạt động theo mô hình này tại Việt Nam:
>> Những công ty này thường xây dựng một hệ thống phân phối rộng lớn và đa dạng để đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu dùng trong nước. Họ có thể sử dụng các kênh bán hàng truyền thống như cửa hàng bán lẻ, siêu thị, cũng như các kênh bán hàng trực tuyến để đạt được sự tiếp cận rộng rãi với người tiêu dùng.
Một số các tập đoàn thành lập các công ty con tại Việt Nam chỉ với mục đích để cung cấp dịch vụ như dịch vụ gia công phần mềm, sản xuất phần mềm,…
Gần đây một vài tập đoàn thành lập các công ty chuyên cung cấp dịch vụ gia công phần mềm, nghiên cứu phát triển theo hợp đồng cho các công ty khác trong tập đoàn; trong quá trình nghiên cứu phát triển sẽ có nhiều công đoạn như công đoạn nghiên cứu lõi bên tập đoàn sẽ làm.
Tuy nhiên, một vài công nghệ không đòi hỏi yêu cầu khắt khe, nhân lực công nghệ trình độ cao thì có thể chuyển giao cho công ty con (điều này khá phổ biến trong các dịch vụ gia công phần mềm) nằm tận dụng các nhân lực công nghệ thông tin số lượng lớn và giá rẻ tại Việt Nam.

Mô hình cung cấp dịch vụ cho bên liên kết
Mô hình cung cấp dịch vụ cho bên liên kết
>> Tại Việt Nam, mô hình cung cấp dịch vụ cho bên liên kết, đặc biệt là trong lĩnh vực gia công phần mềm, đang trở nên phổ biến tại Việt Nam do sự phát triển của ngành công nghệ thông tin và sự xuất hiện của nhiều công ty công nghệ mới, như:
>> Những công ty này thường có nhân lực chuyên môn cao và kinh nghiệm trong việc phát triển phần mềm, và họ tận dụng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng tại Việt Nam để cung cấp dịch vụ cho các tập đoàn và doanh nghiệp trên thế giới.
Mô hình được sử dụng phổ biến gần đây được nhiều doanh nghiệp áp dụng; ở đây doanh nghiệp sẽ thành lập một công ty Holding (một công ty mẹ dưới hình thức tập đoàn, công ty trách nhiệm hữu hạn sở hữu đủ cổ phiếu để nắm quyền biểu quyết ở một công ty khác, có thể kiểm soát các chính sách và giám sát các quyết định quản lí của công ty đó); sau đó công ty mẹ sẽ thành lập các công ty con để có thể hoạt động trong một lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Mô hình sử dụng vốn công ty đầu tư (Holding)
Mô hình sử dụng vốn công ty đầu tư (Holding)
Trong mô hình này có thể phát sinh giao dịch công ty mẹ đóng vai trò cung cấp các dịch vụ hỗ trợ quản lý, hỗ trợ vận hành như cung cấp nhân lực công nghệ thông tin, pháp lý hay cung cấp khoản vay cho các công ty con.
Tại sao ở trường hợp này lại có dịch vụ hỗ trợ quản lý hoặc hỗ trợ vận hành về mặt kinh tế, thương mại? Bởi thay vì từng công ty con phải thiết lập bộ phận về nhân sự, công nghệ thông tin, bộ phận về pháp lý cho riêng mình và phát sinh nhiều chi phí liên quan, tập đoàn doanh nghiệp tập trung các chức năng đó về một bộ phận của công ty mẹ và bộ phận này của công ty mẹ sẽ cung cấp dịch vụ tới công ty con. Điều này sẽ đạt hiệu quả hơn. bởi nhân sự hiện nay sẽ không thụ động làm việc cho một công ty mà sẽ làm việc cho nhiều các đơn vị khác nhằm khai thác và tận dụng tối đa được năng lực.
>> Tại Việt Nam, mô hình sử dụng vốn công ty đầu tư (Holding) đã trở thành một mô hình phổ biến trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, đặc biệt là trong việc tạo ra các tập đoàn đa ngành hoạt động:
Những công ty này đã áp dụng mô hình Holding để tạo ra các tập đoàn đa ngành với sự quản lý hiệu quả và tối ưu hóa tài nguyên. Mô hình này giúp các công ty mẹ tập trung vào việc quản lý và phát triển chiến lược kinh doanh toàn cầu, trong khi các công ty con hoạt động chuyên sâu trong các lĩnh vực cụ thể.
Mô hình toàn diện thể hiện hầu như toàn bộ các giao dịch trên, đặc biệt chủ yếu ở các công ty, dự án lớn và có số vốn đầu tư “khủng”. Trong mô hình chính tại Mỹ, các trụ sở vùng sẽ đặt tại Singapore, Hồng Kông và các nhà máy sản xuất tại Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, ngoài ra còn nhiều văn phòng bán hàng ở nhiều quốc gia và nhiều khu vực khác nhau, đồng thời công ty tài chính sẽ được đặt tại Hà Lan.

Toàn bộ các giao dịch trên mô hình toàn diện
Toàn bộ các giao dịch trên mô hình toàn diện
Tại sao doanh nghiệp thành lập những công ty như trên?
>> Điều này xuất phát từ những giá trị về mặt thương mại, tiết kiệm chi phí; giả sử khi đặt các công ty con trong khu vực đông nam á với chi phí sản xuất và nhân công thấp, ưu đãi thuế nhiều, đặc biệt tại Việt Nam hiện nay có khá nhiều ưu đãi về đất và thuế việc đặt nhà máy tại đây “cực kì” hợp lý, các trụ sở thuộc t đoàn hoạt động nhiều nơi trên thế giới và thông thường họ sẽ phân chia từng khu vực có văn phòng hành chính đại diện.
Trụ sở chính tại Mỹ sở hữu công nghệ sản xuất, bản quyền, thương hiệu, nhãn hiệu và cung cấp công nghệ cho các công ty con tại Thái Lan, Việt Nam, Tndonesia,… đồng thời cung cấp quyền sử dụng thương hiệu, nhãn hiệu phân phối đối với các văn phòng bán hàng; ngoài ra với vai trò trụ sở chính, công ty mẹ còn chia sẻ thêm về nhân sự, tài chính, pháp lý,… các trụ sở khu vực sẽ thay mặt nhà sản xuất tiến hành tìm kiếm, mua nguyên vật liệu. Xét về mặt chi phí việc tiến hành các giao dịch như trên hoàn toàn có lợi cho công ty mẹ bởi việc mua nguyên vật liệu số lượng lớn thay vì “xé lẻ” cho các công ty con tự tiến hành thu mua giúp công ty mẹ dễ dàng quản lý, kiểm soát và tiết kiệm chi phí.
>> Tại Việt Nam, mô hình toàn diện được áp dụng bởi các tập đoàn hoạt động quốc tế, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp lớn và có vốn đầu tư lớn. Trong mô hình này, các công ty thường tận dụng các lợi thế của các quốc gia và khu vực khác nhau để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro:
>> Mô hình này thường được áp dụng bởi các tập đoàn lớn có mục tiêu mở rộng quy mô hoạt động ra toàn cầu và tận dụng lợi thế của các quốc gia và khu vực khác nhau để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro.
Nhiều doanh nghiệp phát sinh giao dịch liên kết, nhưng lại không biết là doanh nghiệp mình có liên quan đến giao dịch liên kết, nên dẫn đến những sự việc đáng tiếc như: Không kê khai, Bị phạt cả TRĂM TRIỆU tiền thuế vì vay tiền của giám đốc không lãi suất. Hay thực hiện chuyển giá bằng những hành động tinh vi hơn như: Chuyển giá bằng cách tăng chi phí cho công ty con lợi dụng CHÊNH LỆCH THUẾ SUẤT, hay hưởng ưu đãi thấp hơn từ công ty mẹ bằng cách giảm giá bán cho công ty mẹ…
==> Tham khảo dịch vụ của TACA tại đây:
>> Tham khảo thêm: Dịch vụ hải quan toàn diện dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Hoặc vui lòng liên hệ với TACA theo Hotline CSKH: 0982 518 586
Taca Import & Export Consulting,
Tầng 2, tòa A, Chelsea Residences, số 48 Trần Kim Xuyến, Phường Yên Hoà, TP Hà Nội.
Hotline: 0982 518 586
Support@taca.edu.vn
Tầng 18, Tòa nhà Vincom Center Đồng Khởi, 72 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Nghé, Quận 1, HCM
Hotline: 0985 611 911