
Cách tính chi phí lãi vay giao dịch liên kết không chỉ là một bài toán số học đơn thuần, mà còn là yếu tố quyết định mức độ hợp lý của chi phí tài chính trong mắt cơ quan thuế. Nhiều doanh nghiệp đã từng “tá hỏa” khi phát hiện ra khoản lãi vay bị loại khỏi chi phí được trừ, dẫn đến số thuế phải nộp tăng đột biến.
Doanh nghiệp bạn có đang tính đúng và đầy đủ chi phí lãi vay theo quy định? Nếu còn băn khoăn, hãy đọc tiếp bài viết này.
Chi phí lãi vay luôn là một vấn đề quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Việc vay vốn từ các bên liên quan sẽ giúp tối ưu dòng tiền, nhưng nếu không tuân thủ đúng quy định, doanh nghiệp có thể bị loại chi phí lãi vay khi quyết toán thuế. Vậy, pháp luật hiện hành quy định như thế nào về chi phí lãi vay trong giao dịch liên kết?
Một doanh nghiệp được coi là có giao dịch liên kết với tổ chức cho vay khi khoản vay thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau:
(1) Khoản vốn vay từ tổ chức đó phải chiếm ít nhất 25% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay.
(2) Tổng giá trị các khoản vay từ tổ chức đó phải chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp.
Nếu chỉ thỏa mãn 1 trong 2 điều kiện trên, khoản vay đó không bị coi là giao dịch liên kết. Ngoài ra, khi xác định giao dịch liên kết, bạn cần lưu ý thêm 1 số điều:
Việc xác định khoản vay có chiếm ít nhất 25% vốn chủ sở hữu hay không sẽ dựa vào số liệu vốn chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh khoản vay.
Nợ trung và dài hạn bao gồm tất cả các khoản nợ có thời hạn thanh toán từ 12 tháng trở lên hoặc kéo dài trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường. Các khoản này được xác định dựa trên báo cáo tài chính tại thời điểm khóa sổ kế toán.
Nếu doanh nghiệp vay vốn từ nhiều tổ chức khác nhau, tổng các khoản vay cộng lại có thể đạt tỷ lệ 25% vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, nếu xét riêng từng tổ chức cho vay mà không tổ chức nào đáp ứng mức 25% này thì khoản vay vẫn không được coi là giao dịch liên kết.
>> Toàn bộ kiến thức về quan hệ liên kết tại: Quan hệ liên kết là gì? Cách xác định giao dịch liên kết và rủi ro?
Chúng ta sẽ xem xét 2 ví dụ sau để hiểu rõ hơn.
Ví dụ 1: Công ty A có vốn chủ sở hữu là 5 tỷ đồng và không thay đổi trong năm.
Ngày 05/06/2021, công ty vay 1 tỷ đồng từ ngân hàng M.
Ngày 05/07/2021, công ty tiếp tục vay 1,2 tỷ đồng từ ngân hàng Z.
Đến ngày 31/12/2021, tổng các khoản nợ trung và dài hạn của công ty là 3 tỷ đồng.
Mặc dù tổng hai khoản vay cộng lại là 2,2 tỷ đồng, lớn hơn 25% vốn chủ sở hữu và cũng vượt 50% tổng nợ trung và dài hạn, nhưng vì xét riêng từng ngân hàng thì không ngân hàng nào có khoản vay đạt 25% vốn chủ sở hữu. Cụ thể:
Khoản vay từ ngân hàng M chỉ chiếm 20% vốn chủ sở hữu (1 tỷ/5 tỷ).
Khoản vay từ ngân hàng Z chiếm 24% vốn chủ sở hữu (1,2 tỷ/5 tỷ).
Do đó, công ty A và các ngân hàng M, Z không có giao dịch liên kết.
Ví dụ 2: Cùng với những điều kiện ở ví dụ 1, nhưng lần này công ty A vay cả hai khoản từ cùng một ngân hàng M.
Ngày 05/06/2021, công ty vay 1 tỷ đồng từ ngân hàng M.
Ngày 05/07/2021, công ty tiếp tục vay thêm 1,2 tỷ đồng cũng từ ngân hàng M.
Lúc này, tổng vốn vay từ ngân hàng M là 2,2 tỷ đồng, chiếm 44% vốn chủ sở hữu (2,2 tỷ/5 tỷ) và cũng chiếm trên 50% tổng nợ trung và dài hạn. Vì cả hai điều kiện đều thỏa mãn, nên công ty A và ngân hàng M có giao dịch liên kết.
>> Đọc chi tiết: Hướng dẫn kê khai giao dịch liên kết trên KTKK
(1) Theo quy định, nếu doanh nghiệp vay tiền từ một cá nhân nắm giữ ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch, thì khoản vay này sẽ bị xác định là giao dịch liên kết. Những cá nhân này thường là giám đốc, chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc một cá nhân có quyền kiểm soát đáng kể trong công ty.
Ví dụ 1: Công ty X có vốn chủ sở hữu là 10 tỷ đồng. Ngày 20/06/2021, công ty vay 1,5 tỷ đồng từ giám đốc T với lãi suất 7%/năm. Vì khoản vay vượt 10% vốn chủ sở hữu (tương đương 1 tỷ đồng), nên giao dịch này được xác định là giao dịch liên kết.
(2) Nếu doanh nghiệp hoàn trả khoản vay trong năm thì có còn bị xác định là giao dịch liên kết không?
Câu trả lời là có. Dù doanh nghiệp đã hoàn tất việc trả nợ trước cuối năm tài chính, nhưng chỉ cần khoản vay tại thời điểm phát sinh vượt 10% vốn chủ sở hữu, thì giao dịch vẫn được xem là giao dịch liên kết.
Ví dụ 2: Tiếp tục với công ty X, nhưng đến ngày 20/11/2021, công ty đã hoàn trả 1 tỷ đồng cho giám đốc T. Dù khoản vay giảm xuống, nhưng vì trước đó đã có khoản vay vượt 10% vốn chủ sở hữu, nên công ty X và giám đốc T vẫn phát sinh giao dịch liên kết.
(3) Trường hợp vay không lãi suất có phải là giao dịch liên kết không?
Nhiều doanh nghiệp có thể hiểu lầm rằng việc vay tiền không lãi suất từ giám đốc hoặc chủ sở hữu sẽ không bị xem là giao dịch liên kết. Tuy nhiên, theo quy định, chỉ cần số tiền vay từ cá nhân điều hành đạt từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên, dù có lãi suất hay không, thì vẫn được xác định là giao dịch liên kết.
Ví dụ 3: Giả sử giám đốc T đồng ý cho công ty X vay 1,5 tỷ đồng không lãi suất. Dù không có chi phí lãi vay phát sinh, nhưng khoản vay này vẫn vượt 10% vốn chủ sở hữu của công ty. Do đó, giao dịch này vẫn thuộc diện giao dịch liên kết.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, doanh nghiệp có giao dịch liên kết cần đặc biệt lưu ý về giới hạn chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không tính toán chính xác, chi phí lãi vay có thể bị loại trừ, làm tăng số thuế phải nộp.
Chi phí lãi vay giao dịch liên kết được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN phải tuân thủ nguyên tắc sau:
Tổng chi phí lãi vay được trừ – Lãi tiền gửi / Lãi cho vay ≤ 30% * EBITDA
Trong đó: EBITDA = Tổng lợi nhuận thuần + Lãi tiền vay – Lãi tiền gửi / Lãi cho vay + Chi phí khấu hao
>> Xem ngay: 5 phương pháp xác định giá giao dịch liên kết

Khi tính chi phí lãi vay trong giao dịch liên kết, doanh nghiệp không thể tùy ý hạch toán mà phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của pháp luật thuế. Việc xác định đúng chi phí được trừ không chỉ giúp tối ưu nghĩa vụ thuế mà còn tránh rủi ro khi cơ quan thuế kiểm tra. Dưới đây là những điểm quan trọng về cách tính chi phí lãi vay giao dịch liên kết mà doanh nghiệp cần lưu ý để đảm bảo tuân thủ quy định.
Doanh nghiệp cần hiểu rõ rằng chi phí lãi vay có bị khống chế hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có phát sinh giao dịch liên kết hay không:
Ví dụ: Doanh nghiệp khi mua bán phí dịch vụ sẽ bị khống chế ở mức 30%; nhiều doanh nghiệp sẽ thiệt thòi khi tiến hành vay từ phía ngân hàng, tuy nhiên trong năm lại phát sinh các giao dịch nhỏ với các bên liên kết, đối chiếu theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, dựa trên điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP thì chi phí lãi vay với ngân hàng bị khống chế ở mức 30%.
>> Đọc thêm:
Điều này có nghĩa là dù doanh nghiệp vay vốn từ tổ chức tài chính độc lập, nếu phát sinh giao dịch liên kết thì chi phí lãi vay đó vẫn bị đưa vào giới hạn 30% EBITDA.
Ví dụ: Doanh nghiệp có chi phí lãi vay là 5 tỷ đồng nhưng đồng thời có thu nhập từ lãi tiền gửi là 1 tỷ đồng. Khi đó, lãi vay thuần dùng để tính mức khống chế sẽ là 4 tỷ đồng (5 tỷ – 1 tỷ).
Khi tính EBITDA để xác định mức giới hạn chi phí lãi vay, doanh nghiệp cần lưu ý rằng EBITDA bao gồm lợi nhuận trước thuế, cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao tài sản cố định. Tuy nhiên, chi phí khấu hao trong EBITDA chỉ bao gồm khấu hao của máy móc thiết bị và tài sản cố định, không bao gồm chi phí phân bổ.
Nếu EBITDA âm, toàn bộ chi phí lãi vay thuần trong năm sẽ không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này có thể ảnh hưởng đáng kể đến các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư lớn nhưng chưa có lợi nhuận.
Ví dụ: Một doanh nghiệp có EBITDA âm nhưng đồng thời phát sinh thu nhập từ lãi tiền gửi hoặc lãi cho vay, phần thu nhập này có thể được dùng để bù trừ một phần chi phí lãi vay.
Một vấn đề gây tranh cãi là liệu chi phí lãi vay không được trừ trong năm có thể chuyển sang 5 năm tiếp theo hay không. Theo quy định của Nghị định 132/2020/NĐ-CP, phần chi phí lãi vay vượt mức khống chế trong năm có thể được chuyển sang 5 năm tiếp theo để tiếp tục khấu trừ.
Tuy nhiên, gần đây, trong quá trình kê khai phụ lục 1, Tổng cục Thuế có quan điểm rằng nếu EBITDA âm thì toàn bộ chi phí lãi vay thuần không được trừ và cũng không được chuyển sang các năm sau. Đây là một điểm chưa thống nhất và doanh nghiệp cần theo dõi sát các hướng dẫn từ cơ quan thuế để thực hiện đúng quy định.
Trong giao dịch liên kết, việc xác định chi phí lãi vay hợp lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và tối ưu hóa nghĩa vụ thuế. Nếu doanh nghiệp áp dụng sai phương pháp hoặc không có căn cứ rõ ràng, khoản lãi vay có thể bị loại khỏi chi phí được trừ, dẫn đến số thuế phải nộp tăng lên đáng kể. Dưới đây là 3 phương pháp xác định lãi vay phổ biến, được cơ quan thuế sử dụng để kiểm tra tính hợp lý của chi phí lãi vay trong giao dịch liên kết.
1. Phương pháp so sánh – Tìm mức lãi vay hợp lý theo thị trường
Phương pháp so sánh dựa trên nguyên tắc: nếu doanh nghiệp vay từ công ty liên kết, mức lãi suất phải tương đương với lãi suất thị trường khi vay từ bên độc lập. Để xác định mức lãi vay hợp lý, doanh nghiệp cần thu thập dữ liệu về các khoản vay tương tự trên thị trường, xem xét các yếu tố như thời hạn vay, mức độ rủi ro và điều kiện tài chính. Nếu lãi vay thực tế chênh lệch đáng kể so với mức chuẩn, cơ quan thuế có thể yêu cầu điều chỉnh, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí được trừ khi tính thuế.
>> Đọc thêm:
2. Phương pháp tỷ lệ – Định mức lãi vay dựa trên tổng doanh thu hoặc lợi nhuận
Phương pháp này xác định chi phí lãi vay tối đa mà doanh nghiệp được tính vào chi phí hợp lý, dựa trên tỷ lệ phần trăm so với tổng doanh thu hoặc lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA). Quy định hiện hành tại Việt Nam giới hạn tổng chi phí lãi vay được trừ không vượt quá 30% EBITDA, nhằm kiểm soát việc chuyển lợi nhuận qua lãi vay. Nếu doanh nghiệp có chi phí lãi vay vượt mức này, phần chênh lệch sẽ bị loại trừ khi tính thuế, làm tăng số thuế phải nộp.
3. Phương pháp chi phí gia tăng – Tính toán lãi vay từ chi phí thực tế cộng biên lợi nhuận
Phương pháp chi phí gia tăng dựa trên chi phí thực tế mà bên cho vay phải chịu, cộng thêm một mức lợi nhuận hợp lý để xác định lãi suất. Điều này giúp đảm bảo bên cho vay không áp đặt mức lãi suất quá cao, gây rủi ro thuế cho doanh nghiệp đi vay. Cơ quan thuế sẽ kiểm tra xem mức lợi nhuận bổ sung có phù hợp với thực tế thị trường hay không. Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp này, cần chuẩn bị hồ sơ đầy đủ về chi phí vốn và biên lợi nhuận để chứng minh tính hợp lý khi có thanh tra thuế.
Cách tính chi phí lãi vay giao dịch liên kết là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí tài chính một cách hợp lý và tuân thủ quy định pháp luật. Chỉ cần một sai sót nhỏ trong việc xác định lãi vay hợp lệ, doanh nghiệp có thể đối diện với những khoản truy thu thuế không mong muốn. Hy vọng với những kiến thức trong bài viết này, bạn sẽ có thêm góc nhìn rõ ràng và áp dụng hiệu quả vào thực tế, giúp doanh nghiệp vận hành ổn định và phát triển bền vững.
Nếu bạn còn băn khoăn về cách tính chi phí lãi vay giao dịch liên kết, liên hệ TACA với Dịch vụ tư vấn lập tờ khai và hồ sơ giao dịch liên kết (Transfer pricing) ngay. Với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm thực chiến trong ngành, am hiểu sâu sắc về chuyển giá và môi trường kinh doanh tại Việt Nam, TACA sẽ giúp doanh nghiệp bạn định hướng chiến lược phù hợp, từ tư vấn luật mới nhất, lập hồ sơ giao dịch liên kết đến hỗ trợ giải trình với cơ quan thuế. Không chỉ dừng lại ở một dịch vụ tư vấn, TACA còn là người đồng hành dài lâu, sẵn sàng hỗ trợ bạn trong suốt quá trình vận hành và kiểm soát giao dịch liên kết, đảm bảo tuân thủ pháp luật và tối ưu lợi ích tài chính cho doanh nghiệp.
>>> Tham khảo thêm các dịch vụ khác tại Taca:
Taca Import & Export Consulting,
1. Doanh nghiệp vay ngắn hạn từ ngân hàng 2 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu là 3 tỷ đồng. Công ty không có khoản nợ trung và dài hạn. Vậy trường hợp này có bị xem là giao dịch liên kết không?
Theo quy định, một doanh nghiệp chỉ bị xác định có giao dịch liên kết nếu khoản vay từ ngân hàng thỏa mãn cả hai điều kiện:
Trong trường hợp này, mặc dù khoản vay 2 tỷ đồng vượt 25% vốn chủ sở hữu, nhưng do đây là khoản vay ngắn hạn và doanh nghiệp không có nợ trung và dài hạn, nên không thỏa mãn cả hai điều kiện trên và không bị xem là có giao dịch liên kết.
2. Trong năm, công ty có một số thời điểm bị âm quỹ tiền mặt nên có vay tạm giám đốc mà không tính lãi suất. Tuy nhiên, đến cuối năm đã hoàn trả đầy đủ. Vậy giao dịch này có bị xác định là giao dịch liên kết không?
Theo quy định, nếu công ty vay từ giám đốc với tổng số tiền từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên, thì giao dịch này sẽ được xác định là giao dịch liên kết.
Lưu ý: Việc đánh giá có giao dịch liên kết hay không dựa vào thời điểm phát sinh khoản vay trong năm, không phụ thuộc vào việc cuối năm công ty đã hoàn trả hay chưa. Nếu khoản vay tại bất kỳ thời điểm nào trong năm vượt 10% vốn chủ sở hữu, công ty vẫn bị xem là có giao dịch liên kết.
3. Doanh nghiệp hoạt động đồng thời 2 lĩnh vực: bất động sản và sản xuất kinh doanh. Vậy chi phí lãi vay được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) như thế nào?
Nguyên tắc xử lý chi phí lãi vay trong trường hợp này như sau:
Cục Thuế TP. Hà Nội đã hướng dẫn rõ tại Công văn 27970/CTHN-TTHT ngày 15/06/2022 rằng:
Tóm lại, doanh nghiệp cần xác định rõ từng khoản vay thuộc hoạt động nào để đảm bảo hạch toán chính xác và tối ưu chi phí hợp lý khi quyết toán thuế.
Tầng 2, tòa A, Chelsea Residences, số 48 Trần Kim Xuyến, Phường Yên Hoà, TP Hà Nội.
Hotline: 0982 518 586
Support@taca.edu.vn
Tầng 18, Tòa nhà Vincom Center Đồng Khởi, 72 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Nghé, Quận 1, HCM
Hotline: 0985 611 911